Bộ Tài chính ứng dụng thành công công nghệ thông tin

Theo báo cáo ICT Index 2017, Bộ Tài chính là đơn vị dẫn đầu trong 20 bộ ngành về khả năng triển khai và ứng dụng công nghệ thông tin. Kết quả đánh giá dựa trên 4 chỉ số gồm: hạ tầng kỹ thuật, nhân lực, ứng dụng, mức độ sẵn sàng phát triển công nghệ thông tin.

Bộ Tài chính ứng dụng thành công công nghệ thông tin

Đây cũng là năm thứ 5 liên tiếp Bộ Tài chính đạt được thành tích này kể từ khi thực hiện chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng về tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động cơ quan nhà nước và Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/5/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

Thực tế, vào năm 2008, phần mềm quản lý văn bản đã được Bộ Tài chính triển khai cho 24 đơn vị, tuy nhiên, phải đến năm 2016, Bộ mới hoàn thành việc liên thông văn bản điện tử giữa các bộ và đơn vị trực thuộc; giữa bộ và Văn phòng Chính phủ. Nhờ eDocTC, văn bản chuyển từ đơn vị này qua đơn vị khác rất nhanh chóng, rút ngắn thời gian xử lý công việc so với trước đây.

Trong 9 tháng đầu năm 2017, đã có 300.360 văn bản điện tử được trao đổi nội bộ ngành, 6.326 văn bản trao đổi với Chính phủ qua phần mềm này. Cho đến nay, tại Tổng cục Thuế, chương trình được triển khai ở trụ sở, 3 cục và 55 chi cục. Ở Kho bạc Nhà nước có 14 vụ, cục, đơn vị sự nghiệp và 6 tỉnh thành đang triển khai phần mềm.

Nhờ chương trình này, phương thức làm việc từ xử lý văn bản giấy sang văn bản điện tử đã góp phần lớn giúp cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả làm việc của cán bộ ngành tài chính và góp phần tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng in ấn hàng năm.

Bộ Tài chính đề xuất phương án xoá nợ thuế

Tính đến hết năm 2017, tổng số tiền nợ thuế, chậm nộp, phạt không có khả năng thu hồi đã lên đến 35.300 tỷ đồng, tương đương 45% tổng số nợ thuế, chiếm khoảng 2,75% tổng thu thuế, lệ phí năm 2017 và chiếm gần một nửa số nợ thuế.

Bộ Tài chính đề xuất phương án xoá nợ thuế

Theo giải thích của Bộ Tài chính, xảy ra tình trạng này do nhiều người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách Nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không có nguồn nộp kịp thời. Ngoài ra, tình trạng nhiều doanh nghiệp bị đối tác dừng hợp đồng kinh tế hay vay mượn các tổ chức tín dụng với lãi suất cao là nguyên nhân dẫn đến nguồn vốn không được giải ngân.
Lý do khác nữa là người nộp thuế chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà “không còn tài sản để nộp thuế” thuộc trường hợp được xoá nợ thuế.
Chính vì vậy, Bộ Tài chính vừa có công văn đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết xử lý nợ tiền thuế, tiền chậm nộp và tiền phạt không có khả năng thu hồi. Cụ thể, Bộ Tài chính đưa ra phương án xoá tiền chậm nộp thuế đối với người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng vốn ngân sách hoặc có nguồn chi từ ngân sách nhà nước nhưng chưa được thanh toán nên không nộp kịp thời các khoản thuế dẫn đến phát sinh tiền chậm nộp, tiền phạt nộp chậm. Số tiền này ước tính khoảng 542 tỷ đồng tính đến hết năm 2015.

Ngoài ra, Bộ cũng đề nghị xoá nợ tiền phạt chậm nộp thuế của các khoản nợ thuế phát sinh trước năm 2018 của người nộp thuế gặp thiên tai, hoả hoạn, các trường hợp khó khăn bất khả kháng với tổng số tiền là 1.700 tỷ đồng tính đến hết năm 2017.

Giảm tải các đơn vị tài chính tại huyện

Theo thông tin mới nhất từ Bộ Tài chính, Ban cán sự Bộ Tài chính đã cùng họp và thống nhất chỉ đạo rà soát và đối chiếu để sắp xếp theo hướng cắt giảm bớt các đơn vị tại các huyện trong thời gian tới.

Giảm tải các đơn vị tài chính tại huyện

Giai đoạn 2011-2015, đơn vị đã rà soát cắt giảm 248 thủ tục hành chính và đơn giản hoá với 962 thủ tục hành chính. Từ năm 2016 đến nay, Bộ tiếp tục cắt giảm 174 thủ tục và đơn giản hoán 898 thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, để thực hiện Nghị quyết 01 của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và đảm bảo đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ cũng liên tục rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, đề xuất cắt giảm và đơn giản hoá các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Tính đến nay, Bộ đã đề nghị bãi bỏ 99 điều kiện kinh doanh trên tổng số 370 điều kiện ban đầu, đơn giản hoá 89 điều kiện kinh doanh. Nâng tổng số điều kiện kinh doanh đề nghị cắt giảm và đơn giản hoá là 188 điều kiện, đạt 50,8%. Song song với đó, Bộ Tài chính cũng hoàn thành, trình Chính phủ Quốc hội thông qua 11 luật, 3 nghị quyết là các giải quyết về thuế để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân, trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua 5 Nghị quyết, trình Chính phủ ban hành 117 Nghị định; Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 46 quyết định; Ban hành theo thẩm quyền 900 thông tư và thông tư liên tịch.

Bộ Tài chính thông qua hạng mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành

Ngày 15/12/2017, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2575/QĐ-BTC về danh mục cơ sở dư liệu chuyên ngành bao gồm cơ sở dữ liệu chuyên ngành quản lý Hải quan. Ngoài ra gồm có các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác như: Thuế, Kho bạc, Chứng khoán, Dự trữ nhà nước….; chuyên ngành quản lý, giám sát vốn nhà nước tại DN; chuyên ngành quản lý, giám sát thu, chi ngân sách nhà nước và cơ sở dữ liệu danh mục điện tử dùng chung trong ngành Tài chính.

Bộ Tài chính thông qua hạng mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành

Danh mục mới này sẽ dùng để áp dụng cho các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính, ngoài ra là các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong và ngoài ngành Tài chính có hoạt động liên quan đến xây dựng, cập nhật, kết nối, khai thác và sử dụng nguồn tài liệu từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cơ sở dữ liệu quốc gia về Tài chính.

Đối với cơ sở dữ liệu danh mục điện tử dùng chung của ngành Tài chính, bao gồm tổng thể 77 danh mục với rất nhiều dữ liệu quan trọng, gồm: Đối tượng nộp thuế, trạng thái mã số thuế, loại hình DN, tờ khai thuế,…

Cùng với những danh mục này sẽ xây dựng và góp phần giúp cho việc khai thác số liệu lớn và đảm bảo trao đổi liên thông giữa các cơ quan tài chính hoặc ngoài ngành tài chính như Bộ Công An, Ngân hàng nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông.

Nói đến mục tiêu, Bộ xác định Danh mục cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các yêu cầu kỹ thuật cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đảm bảo hệ thống kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về tài chính. Bên cạnh đó còn phải đảm bảo liên tục tính hệ thống, tiết kiệm và hiệu quả đầu tư, đồng thời nâng cao tính linh hoạt cho các đơn vị thuộc Bộ.

Mức nợ công của Việt Nam đã chạm trần

Theo Bản tin Nợ công số 5 vừa được công bố mới đây của Bộ Tài Chính, nợ công Việt Nam tính đến hết năm 2015 đã chạm mốc hơn 2 triệu tỉ đồng với ba chủ nợ lớn nhất hiện nay là Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).

nợ công

Theo báo cáo, tính đến cuối năm 2015, dư nợ của Chính phủ là hơn 94 tỷ USD ~ 2 triệu tỉ đồng trong đó nợ nước ngoài đạt 39,6 tỷ USD. Nếu chia cho hơn 90 triệu người dân Việt Nam thì tính đến năm 2015, mỗi công dân của chúng ta đang phải gánh 22,5 triệu nợ công.

Khác so với năm 2013, thị trường năm 2015 đang diễn biến theo xu hướng tăng cường vay nợ trong nước và hạn chế vay nước ngoài. Cụ thể, năm 2011, nợ trong nước là 20 tỷ USD nhưng đến năm 2015 đã tăng đến 54 tỷ USD.

Cũng theo bản tin này, Bộ Tài chính thông báo nợ được Chính phủ bảo lãnh là gần 21 tỷ USD, tương đương với hơn 455.000 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với mức 13 tỷ USD vào năm 2011.  Số nợ này phần lớn là vay nước ngoài hơn 11,3 tỷ USD (tính cả nợ được bảo lãnh để tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam), số còn lại được vay trong nước. Đây chính là áp lực lớn nhất lên nợ công và Chính phủ phải có nghĩa vụ trả nợ trong tương lai. Chỉ trong vòng 4 năm, nợ công đã tăng đột biến từ 54,9% GDP lên 61% GDP.

Theo số liệu mới nhất của Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), nợ công đã gần chạm ngưỡng 65% GDP mà Quốc hội cho phép. Bài toán này đang đặt ra rất nhiều thách thức cho các Bộ, Ban ngành vào thời điểm nợ công đang đạt đỉnh như thế này.